Tuyến giáp là bộ phận vô cùng quan trọng của cơ thể, vì nó có chức năng điều khiển mọi hoạt động của tế bào trong cơ thể. Người bị mắc bệnh về tuyến giáp thường phải mất thời gian dài điều trị để cân bằng hormone. Chế độ ăn uống đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho quá trình điều trị. Vì vậy, người bệnh tuyến giáp cần lưu ý nên ăn loại thực phẩm gì cũng như kiêng kỵ thực phẩm gì sẽ giúp quá trình điều trị được rút ngắn hơn.

Thực phẩm giàu i-ốt

Tuyến giáp rất cần i-ốt để tổng hợp hormone. Người bệnh bị bướu cổ hay suy giáp do thiếu i-ốt rất cần được bổ sung thêm i-ốt qua việc dùng muối i-ốt và các thực phẩm giàu i-ốt. Thực phẩm có trong tự nhiên giàu i-ốt là hải sản, thịt, trứng, sữa. Ăn uống đầy đủ các loại thực phẩm này sẽ cung cấp đủ lượng i-ốt cho cơ thể. Ở những vùng thiếu i-ốt thì các thực phẩm có rất ít i-ốt nên nguồn cung cấp i-ốt cho cơ thể chủ yếu từ muối được trộn thêm i-ốt.

Lưu ý, những người bị bệnh Basedow không nên sử dụng muối i-ốt vì lượng i-ốt cao làm giảm tác dụng của thuốc điều trị bệnh. Các thực phẩm giầu i-ốt thực ra cũng chỉ cung cấp một lượng i-ốt đủ cho cơ thể nên không cần hạn chế với người bị bệnh Basedow. Tuy nhiên, rong biển lại có rất nhiều i-ốt (1.542 mcg iodine/gr rong biển khô) vì vậy nên hạn chế sử dụng rong biển với người bệnh Basedow.

Ngoài ra, người bị bệnh viêm giáp tự miễn có hay không có bướu cổ hay suy giáp kèm theo, cũng cần chú ý không nên bổ sung quá nhiều i-ốt vì làm bệnh tự miễn có nguy cơ bị nặng thêm. Những người này không nên dùng muối i-ốt hay rong biển. Tuy nhiên cũng không cần quá kiêng khem, những thực phẩm giàu i-ốt khác như hải sản, thịt, trứng, sữa chỉ cung cấp lượng i-ốt vừa đủ, người bệnh vẫn có thể sử dụng bình thường.

Các loại rau họ cải

Các loại rau họ cải như cải bắp, súp-lơ, bông cải xanh, cải thìa (chít), cải lá xoăn,... rất tốt cho cơ thể, ngoài các vitamin, yếu tố vi lượng, và chất xơ do họ rau cải cung cấp thì nó còn cung cấp các chất glucosinolates có đặc tính chống ung thư rất tốt. Tuy nhiên chất chuyển hoá của nó là thiocyanate gây ức chế tổng hợp hormone tuyến giáp. Như vậy, nếu ăn một lượng lớn và liên tục các loại rau họ cải có thể dẫn đến bị bướu cổ hoặc suy giáp. Vậy như thế nào là lớn? Có 5 người không bị bệnh tuyến giáp đã tình nguyện uống nước lá cải xoăn, mỗi lần uống tương đương nửa cân lá, uống 2 lần 1 ngày, và uống trong 7 ngày liền rồi kiểm tra chức năng tuyến giáp vẫn thấy bình thường.

Một bà cụ bị bệnh tiểu đường ở Trung Quốc đã ăn hàng ngày 1-1.5 kg rau cải thìa (chít) để cải thiện đường máu, sau vài tháng ăn như vậy thì bà cụ bị suy giáp. Như vậy, trong các rau họ cải có chất gây bướu cổ, gây suy giáp là sự thật nhưng với lượng rau cải chúng ta tiêu thụ bình thường hàng ngày không đủ để gây ra ảnh hưởng cho tuyến giáp. Vì vậy, bệnh nhân bị bướu cổ, suy giáp vẫn có thể sử dụng rau họ cải bình thường, chỉ cần tránh sử dụng quá nhiều như bà cụ nêu trên là được.

Các sản phẩm từ đậu nành

Các sản phẩm từ đậu nành như sữa đậu nành, đậu phụ, nước tương, đậu tương lên men, ... có chứa isoflavons, là chất ức chế tổng hợp hormone giáp (ức chế TPO). Tuy nhiên, các nghiên cứu trên thế giới cho thấy những người được cung cấp đủ i-ốt có sử dụng đậu nành và các sản phẩm của nó không thấy chức năng tuyến giáp bị ảnh hưởng. Những người bệnh phải sử dụng hormone giáp (suy giáp) cần lưu ý khi sử dụng các sản phẩm đậu nành vì có thể phải tăng liều thuốc.

Một bệnh nhân sau khi điều trị suy giáp đã ổn định (bình giáp) nhiều năm, nhưng trong một lần bệnh nhân đi khám lại thì lại bị suy giáp, sau đó bác sỹ hỏi ra bệnh nhân mới cho biết có sử dụng sản phẩm bột dinh dưỡng (có thành phần chủ yếu là đậu nành). Người bệnh bướu cổ, suy giáp đang điều trị bằng hormone giáp vẫn có thể sử dụng đậu nành và các sản phẩm của nó, tuy nhiên bác sỹ cần lưu ý tới liều thuốc điều trị. Các nhà khoa học cũng khuyến cáo nếu người bệnh đang dùng hormone giáp mà có dùng các sản phẩm đậu nành thì các sản phẩm này phải dùng sau khi uống thuốc ít nhất là 4 tiếng.

Bệnh nhân tuyến giáp không nhất thiết phải kiêng i ốt, đậu nành, rau họ cải như một số người lầm tưởng. Quan trọng là biết cách ăn như thế nào cho hợp lý, liều lượng bao nhiêu và ăn vào lúc nào để có lợi cho sức khỏe và hỗ trợ tốt cho quá trình điều trị.