Bác sĩ da liễu Seema Doshi - 46 tuổi, là bệnh nhân ung thư vú, khi mới phát hiện bệnh chị cũng vô cùng hoảng sợ, khi nghĩ đến việc phải làm hóa trị. Song thật may mắn, chị đã được điều trị không cần phải dùng hóa chất

Trong nhiều thập kỷ, hóa trị được coi là lựa chọn căn bản xử lý khối u vú và nhiều bệnh ung thư khác. Tuy nhiên, theo dữ liệu từ nhiều nguồn, số bệnh nhân thực hiện hóa trị đã có xu hướng ngày càng giảm dần. Xét nghiệm di truyền đánh giá được liệu hóa trị có phải liệu pháp tối ưu hay không. Thực tế, điều trị bằng thuốc là sự lựa chọn tốt hơn với nhiều người. Tùy theo tình trạng bệnh ung thư để có các phương pháp điều trị thích hợp. Và các bác sĩ luôn sẵn sàng loại bỏ các hình thức chữa bệnh nhiều tác dụng phụ, để hướng tới những phương pháp điều trị ưu việt, đạt được mục đích điều trị, mà hạn chế các tác dụng phụ không mong muốn.

Với phương pháp điều trị này, mỗi năm, hàng nghìn người sẽ không phải trải qua giai đoạn hóa trị với những phản ứng đáng sợ như: rụng tóc, nôn ói, mệt mỏi, có nguy cơ gây tổn thương vĩnh viễn cho tim và dây thần kinh.

Tuy nhiên, lựa chọn biện pháp thay thế hóa trị không phụ thuộc vào bệnh viện và từng bác sĩ, chưa được áp dụng rộng rãi.

Tiến sĩ Robert Vonderheide, chuyên gia ung thư phổi Đại học Pennsylvania,cho biết, khoảng 20 năm về trước, chủ đề hội chẩn vẫn là ‘Nên cho bệnh nhân dùng hai hay ba loại hóa trị?’"

Thậm chí, các nhà khoa học còn thử nghiệm lâm sàng xem 4 liệu trình hóa trị có hiệu quả hơn hay không. "Giờ thì chúng tôi có thể gặp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn cuối và chỉ định ‘Không hóa trị'", ông nói.

Các hướng dẫn điều trị ung thư vú cách đây 30 năm rất khắc nghiệt: hóa trị cho khoảng 95% bệnh nhân. Sự thay đổi bắt đầu cách đây khoảng 15 năm, khi thuốc điều trị ung thư vú Herceptin được chấp thuận, trở thành giải pháp cho khoảng 30% bệnh nhân có một loại protein đặc biệt trên bề mặt khối u. Nó được dùng song song hóa trị, giảm một nửa nguy cơ tái phát và tử vong vì ung thư vú.

Theo nghiên cứu, Herceptin hiệu quả khi sử dụng độc lập, không cần kết hợp hóa trị và giúp cải thiện bệnh đáng kể. Đây là thời điểm giới y khoa bắt đầu "phá bỏ định kiến" về hóa trị trong chữa bệnh ung thư.

Song thay đổi liệu pháp tồn tại từ lâu là điều khó khăn. Tiến sĩ Hortobagyi nhận định, kê giảm lượng thuốc cũng là quyết định "đáng sợ".

Nhiều năm trôi qua, ngày càng nhiều bác sĩ chuyên khoa ung bướu thay đổi quan điểm, dựa trên nghiên cứu và thuốc mới. Khảo sát trên gần 3.000 phụ nữ từ năm 2013-2015 cho thấy việc sử dụng hóa trị trong giai đoạn đầu ung thư vú giảm từ 26% xuống còn 14%. Những người bị ung thư hạch bạch huyết, số liệu trình hoá trị giảm từ 81% xuống 64%.

Theo nghiên cứu gần hơn, thực hiện trên hơn 500 phụ nữ từ 60 tuổi trở lên, số người được hóa trị trong giai đoạn 2012-2019 giảm từ 35% xuống còn 19%.

Công nghệ giải trình tự gene có thể giúp các bác sĩ kiểm tra khối u xem chúng có đáp ứng với các loại thuốc hay không.  Các xét nghiệm di truyền có thể xem xét mảng protein trên tế bào ung thư, dự đoán chính xác bệnh nhân nào nên và không nên làm hóa trị. Với công nghệ tiên tiến này là yếu tố then chốt để áp dụng sự thay đổi ngoạn mục này.

Hiện có ít nhất 14 loại thuốc ung thư mới trên thị trường, ba loại được phê duyệt vào năm ngoái, hàng chục loại khác đang thử nghiệm lâm sàng, hàng trăm loại đang ở giai đoạn phát triển ban đầu.

Một số phụ nữ được may mắn điều trị bằng phương pháp này. Thời gian sống sót trung bình của phụ nữ ung thư vú di căn sử dụng Herceptin tăng lên 20 tháng vào đầu những năm 1990, đến nay là khoảng 57 tháng. Một số người thuyên giảm sau khoảng 10-15 năm kể từ khi bắt đầu điều trị.

Theo NY Times